Ám thị từ ngôn ngữ và tín hiệu

Ám thị từ ngôn ngữ và tín hiệuCó người hợp với ám thị ngôn ngữ, nhưng có người lại thấy ám thị bằng mắt, động tác tay hiệu quả hơn
Còn trong cách người khác ám thị thì cũng dùng những ngôn ngữ và tín hiệu để cải thiện tâm tình và hành vi. Có người nhờ ám thị mà “thấy quả mơ không chảy nước dãi”. Đó là một ví dụ đặc sắc. Tuy vậy, hiệu quả ám thị còn phụ thuộc vào thân phận, uy tín của người ám thị cùng mối quan hệ giữa họ với nhau. Trong cách này cũng phải chú ý tới cá tính, mức độ, cách thức cụ thể cho phù hợp. Có người hợp với ám thị ngôn ngữ, nhưng có người khác lại thấy ám thị bằng mắt, động tác tay… hiệu quả hơn. Nếu cách dùng không đúng sẽ không chỉ làm tổn thương tính tích cực của người tập, không đạt hiệu quả mà còn có thể gây hậu quả xấu.
Ám thị không chỉ tác động đến tâm lý và hành vi mà còn đến cả biến hóa sinh lý. Trong phòng thí nghiệm, người ta cho một người nhiều lần uống nước đường. Qua xét nghiệm thấy đường huyết của người đó nâng cao, xuất hiện tiểu đường, cùng với sự gia tăng lượng nước tiểu. Nếu để một người nào đó ở vào tình trạng ngái ngủ mà dùng ám thị ngôn ngữ bảo anh ta rằng: “Anh đã uống nhiều nước đường” nhưng thực tế lại không phải là nước đường thì đường huyết cùng với tiểu đường, lượng nước tiểu cũng nâng cao. Thực nghiệm đó cho thấy ám thị ngôn ngữ có thể kích thích não người hưng phấn tương ứng về một sự việc (như uống nước đường) mà người đó không tham gia (có thật) nhưng vẫn thúc đẩy hoạt động trao đổi chất có liên quan trong cơ thể.
Câu 92. Cách tự giải thoát về tâm lý ra sao?
Đó là cách dùng những triết lý hoặc tư duy sáng suốt nào đó để tự động viên, an ủi mình vượt qua đau khổ, khó khăn trong cuộc sống, giải trừ những dằn vặt trong đầu óc.
Tự động viên là một trong những cách tạo động lực (nội lực) cho hoạt động tinh thần con người. Nhờ đó mà tăng lòng tin, giữ được cân bằng về tâm lý và thêm sức mạnh tinh thần. Cách này cần dùng trong những trường hợp bị đối xử bất công, bệnh tật, thất bại trong công việc.
Phương pháp giải thoát có 3 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là tự thức tỉnh, đánh giá, khẳng định đối với hoàn cảnh và hành vi của mình. Chỉ có khẳng định được việc làm của mình đúng đắn, hợp pháp luật, chính sách chung, hợp lý hợp tình thì mới mong tạo được sự “thanh thản”. Đến giai đoạn 2 là xác lập lòng tin, trình bày ý kiến của mình với người thân, bạn bè, lãnh đạo; vững tin vào hành vi đúng đắn của mình nhất định được mọi người thông cảm, ủng hộ.