ĐẶT TÊN THEO NGŨ CÁCH

Quan hệ số lý giữa Nhân cách và Địa cách là vận mệnh cơ sở qua đó có thể dự đoán người đó có một nền tảng cơ sở vững chắc hay không?
Quan hệ giữa ngoại cách và nhân cách thể hiện quan hệ tình cảm họ hàng thân thiết và tình trạng các mối quan hệ xã giao.
QUAN HỆ GIỮA NGŨ HÀNH VÀ HỌ TÊN.
Trong quan hệ số lý, có quan hệ ngũ hành tương sinh tương khắc do vậy khi vận dụng số lý để đoán tên thì phải xác định rõ số đó thuộc ngũ hành nào.
Khi đưa số và ngũ hành chỉ tính từ số 1 đến 10, những số vượt qua mười thì loại bỏ hàng chục chỉ giữ lại hàng đơn vị, như vậy số còn lại sẽ bảo đảm trong khoản từ 1 đến 10. Nếu số hàng đơn vị đó bằng 0 thì sẽ tính là 10.
Bảng quy đổi số lý thành ngũ hành như sau :

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Dương mộc Âm mộc Dương Hỏa Âm Hỏa Dương Thổ Âm Thổ Dương Kim Âm Kim Dương Thủy Âm Thủy
Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy

Ngoài ra ta còn phải nắm được quan hệ ngũ hành tương sinh tương khắc.
Ngũ hành tương sinh: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.
Ngũ hành tương khắc: Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa.
Vì số ngũ cách được xây dựng trên cơ sở số nét chữ của họ và tên, do vậy nếu có bất kỳ sai sót nào khi tính toán phải đếm nét hay áp dụng quy tắc thì ngũ cách không còn chính xác.
Vậy phải xác định và tính toán số nét chữ trong tên và họ như thế nào?
Nếu ta áp dụng theo tiếng Trung thì phải dùng chữ phồn thể chứ không dùng chữ giản thể hiện đại. Ngoài ra, còn có một số quy tắc phụ trong tiếng Trung như sau:
Các chữ số: bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười lần lượt được tính là: 4 nét, 5 nét, 6 nét, 7 nét, 8 nét, 9 nét, 10 nét.
Nếu có bộ chấm Thủy thì tính là 4 nét.
Nếu có bộ Nguyệt thì tính là 6 nét (bộ Nguyệt sinh ra từ chữ “Nhục”).
Nếu có chữ “Chi” tính là 7 nét (chữ “Chi” từ chữ “Túc” mà ra).
Bộ ấp ở bên trái tính là 8 nét, ở bên phải tính là 7 nét.
Bộ Thảo tính là 6 nét.
Bộ Tâm tính là 1 nét.
Bộ Tài gảy tính là 4 nét (như chữ Thủ).
Bộ Vương cũng như chữ Ngọc tính là 5 nét.
Trong trường hợp cùng tên cùng họ thì phải căn cứ vào ngày sinh tháng đẻ. Trên cơ sở sự khác biệt đó để đưa ra phán đoán sự khác nhau giữa các đối tượng.