Phong lư

Bước năm: Phong lư (đóng cửa lò). Tiếp tục sử dụng bài quyết bốn chữ “hỏa bức kim hành”, khiến cho tinh khí tiếp tục đi lên mạch đốc.
Bước sáu: luyện dược. Sau khi đã được tiểu dược, tiếp tục dùng “vũ hỏa” (hít vào bằng miệng), khiến tinh khí lên mạch đốc ở lưng, qua Tam quan, từ Côn Lôn (đỉnh đầu) đi xuống, đi vào mạch nhâm, dùng “văn hỏa” (thở bằng mũi) đưa vê Đan điền. Tam quan ở đây là : Ngọc chẩm quan ở sau đầu, Lộc lô quan, Vĩ lư quan.
Tinh khí đi qua tam quan ở phía sau lưng đi lên, từ tam Đan điền phía trước mà đi xuống, đi qua thượng hạ thước kiều (ấn đường và lỗ mũi, vĩ luyện cốc đạo), côn lôn, thập nhĩ trọng lầu (khí quản), hoa cái (phổi), hải đễ (âm hội), cốc đạo hoàn thành một vòng tuần hoàn tiểu chu thiên. Trong quá trình này, nước bọt liên tục được nuốt xuống bụng gọi là “ngọc dịch hoàn đan”. Sau khi tam quan, đan điền, đều đã thông tình trạng hô hấp như sau: mỗi khi hơi hít vào, khí dâng lên trong mạch đốc, thở ra khí hạ xuống trong mạch nhâm, trở về Đan điền. Mỗi lần hít vào thở ra là một vòng tuần hoàn, thông thường phải hít thở khoảng 300 nhịp.
Luyện khí hóa thần.
Đây là phương pháp điều nguyên khí đại chu thiên. Được thực hiện như sau:
Bước 1: sinh đại dược và chống lậu dược (rò thuốc). Sau khi luyện tiểu chu thiên, chân khí đã ngày càng manh, khí đã đầy Đan điền, lục căn chấn động, đan điền nóng như có lửa, hại thận tràn đầy, mắt tỏa ánh vàng tai như có gió thổi, sau đầu như có tiếng chim kêu.
Cùng với quá trình sinh đại dược cần đề phòng chất dược bị rò ra qua thượng hạ thước kiều. Dược lọt qua thượng thuốc kiều được gọi là “ngọc quế song thùy”, tức là chảy nước mũi, đây là biểu hiện tinh khí bị thoát ra khỏi cơ thể, cần áp dụng biện pháp phòng chống bằng cách, khi khí đi tới huyệt ấn đường thì đưa lưỡi lên áp chặt vào ngạc trên, dùng ý nghĩ đưa khí đi xuống, tránh để khí dừng lại ở khoang mũi. Hạ thước kiều bị thoát khí tức là hiện trượng “trung tiện”. Để tránh hiện trượng lục căn bao gồm thương hạ thước kiều bị thoát chân khí, phương pháp giữ khí là: dùng kẹp tre kẹp mũi lại, khiến nước mũi không chảy ra, dùng nút gỗ nút cốc đạo (hậu môn); mắt nhắm lại; hai tai tập trung không nghe những tiếng động xung quanh, hai hàm răng mím chặt, lưỡi áp sát, ngạc trên; không suy nghĩ lung tung, dẹp bỏ các tà niệm.