Thuật khí công

Môn khí công Trung Hoa có lịch sử rất lâu đời, từ thời Phục Hy cách này khoảng bảy nghìn đến một vạn năm, đã xuất hiện hình thức sơ khai của khí công mang tên “Đại vũ”, Đại vũ là phương pháp nhằm dẫn dụ, giải tỏa dòng khí tích tụ trong cơ thể, có thể gọi đây là mô hình ban đầu của môn khí công. Vào thời Hoàng đế cách đây khoảng 5000 nằm, thuật “đạo dẫn” ra đời, với quan niệm “đạo dẫn là uốn gân cốt, động khớp tay chân”, đây chính là sự miêu tả hình thức tu luyện đạo dẫn. Sau đạo dẫn là “phục khí” hình thức này đã tiến gần tới khí công thực sự. Trong “lã thị xuân thu”, sự miêu tả mang những yếu tố quan trọng của khí công thực sự. “Đời thượng cổ có vị chân nhân, đội trời đất, nắm âm dương, hít thở tinh khí, đứng thẳng thụ thần, cơ bắp hòa làm một”.
Khí công thời Xuân Thu (722 – 481 trước công nguyên) đã có sự tổng kết về lý luận và phương pháp tu luyện, đã xuất hiện một loại bậc thầy khí công mà tư tưởng của họ là sự thống nhất của các ngành học tu luyện khi công, lý luận khi công, khoa học và triết học như Lão tử, Trang tử, Mặc tử, Khổng tử. Trong “đạo kinh”, Khổng tử có sự tổng kết về lý luận và phương pháp tu luyện khí công, những điều ông ghi lại trong cuốn sách đó đã trở thành phương pháp luận cho những người tập luyện khí công của đời sau. Lão tử thì đã khái quát những yêu cầu chủ yếu đối với người tập khí công: tâm tịnh tính định, hơi thở nhẹ, êm, sau, giữ Đan điền, để ý niệm đi vào với vạn vật của Vũ trụ, tâm hồn và thể xác hòa vào thế giới tự nhiên. Khổng tử – ông tổ của đạo nho đã nói “nhược nhất trí, vô thính chi dĩ nhi, nhi tính chi dĩ tâm…”. Ông nhấn mạnh trong luyện khí công cần “dưỡng thần”, “hòa khí”, muốn luyện khí công cần “dưỡng thần”, “hòa khí”, muốn luyện khí công thì tâm phải chính, muốn vậy thì ý phải thành, phải tu dưỡng tâm tính, đạo đức. Còn Mạnh Tử thì hết sức đề cao “dưỡng hạo nhiên chi khí”, tu luyện khí tự nhiên vốn có trong vũ trụ. Đến Trang Tử, ông tập hợp, kế thừa thành tựu lý luận của người đi trước, lần đầu tiên, lý luận khí công đạt được đỉnh cao. Ông đã kết hợp được sự lưu chuyển vô hình của dòng khí và sự vận động hữu hình của cơ thể, sáng tạo ra hình tượng “gấu vươn mình, chim dang cánh” và phương pháp “chủng tức pháp”. Ông chỉ ra những nguyên tắc cơ bản trong luyện công hành khí. “thuận tắc sinh, nghịch tắc tử”.